Phân tích bài thơ cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

0
865

 

Bài văn mẫu Phân tích bài thơ cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là vị anh hùng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Tài năng của Nguyễn Trài không chỉ dùng lại ở lĩnh vực quân sự mà không còn được biết đến với tư cách là một nhà thơ bởi những công hiến đồ sộ của công cho nền văn học nước nhà. Lý tưởng mà Nguyễn Trãi ấp ủ là giúp cho đất nước thái bình, thịnh vượng, nhân dân no ấm. Lý tưởng ấy được thể hiện rõ nét trong thơ ông, đặc biệt là bài thơ Cảnh ngày hè.

Phân tích bài thơ cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

Bài thơ Cảnh ngày hè được ông sáng tác trong thời gian về nghỉ tại Côn Sơn. Ông tạm xa lánh những ồn ào nơi kinh đô tấp nập trở về với làng quê yên bình. Trong những ngày an nhàn ấy ông đã sáng tác nên bài thơ cảnh ngày hè thể hiện một khát vọng cho đất nước thái bình, nhân dân no ấm. Nó thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước của ông.

Mùa hè cảnh sắc thiên nhiên thay đổi

Rỗi / hóng mát / thuở ngày trường

Tác giả đã mở đầu bài thơ bằng một chữ “Rỗi”. Với nhịp thơ cách tân 1/2/3 phản ánh tư thế ung dung tự tại vốn có của tác giả. Rỗi nghĩa là nhàn nhã, không vướng bận điểu gì. Cuộc đòi nhà không mấy lúc được thảnh thơi. Đây là lúc ông được sống những giây phút thảnh thơi của cuộc đời, được sống theo đúng ước nguyện của mình.

Cuộc sống an nhàn của nhà thơ

Rỗi không có việc gì nên ông ngồi hóng mát. “Ngày trường” là ngày rất dài, thể hiện tâm lý của những người nhàn rỗi thì sẽ cảm thấy thời gian trôi rất chậm. Với con người ưa suy nghĩ như Nguyễn trãi thì cảm nhận như vậy là chuyện hết sức đương nhiên. Nhưng vốn là con người luôn lo cho nước cho dân thì việc ông ngồi hóng mát như vậy chỉ là hình thức vì thật ra ông luôn ở trong tình cảnh lo cho nước cho dân. Thân nhàn nhưng tâm không nhàn. Đằng sau sự nhàn hạ ấy là một hoàn cảnh trớ trêu, chứa một nụ cười chua chát của nhà thơ. Chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mới tạm xua tan đi những nỗi lo lắng của ông

Hòe lục đùn đùn tản rợp giương .  

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.

Phân tích bài thơ cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi – 4 câu tiếp theo

Chỉ một vài nét bút phác họa mà bức tranh mùa hè đã hiện lên vô cùng sống động hài hoa, các loài cây đua nhau khoe sắc hương. Cây hòe xanh mát che cho cả một góc vườn, những bông hoa lựu đỏ rực báo hiệu một mùa hè nữa lại về, thoang thoảng đâu đây mùi hương của sen đã tỏa bóng mát vào tâm hồn thi sĩ. Hòe, lựu, sen đều là những loài cây đặc trưng của mùa hè, những từ ngữ “đùn đùn”, “rợp gương”.., gợi cho người đọc thấy được một bức tranh mùa hè đầy sôi động, căng tràn sức sống, một khung cảnh thiên nhiên hết sức hài hòa.

Cuộc sống nhộn nhịp ấm no hạnh phúc của nhân dân

Ở bốn câu thơ đầu, nhà thơ chỉ nhắc đến màu sắc, cảnh vật thiên nhiên, thì ở hai câu tiếp hình bóng con người đã xuất hiện.

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng hỏi cầm ve lầu tịch dương.

 Từ tượng thanh Lao xao đặt trước “chợ cá” làm cho bức tranh không khí thêm phần nhộn nhịp hơn. Lao xao tiếng ồn ã, tiếng cười nói mua bán của con người làm nổi bật lên bức tranh làng quê rộn rã, phiên chợ quê đậm chất dân dã thôn quê. Tiếng ve lúc chiều ta thường gợi buồn, nhưng với nhà thơ nó đã thành một tiếng đàn rộn rã, làm cho tâm trạng náo nức hẳn lên.

Những hình ảnh thiên nhiên đã đánh thức trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng những suy nghĩ tâm huyết vì nước vì dân.

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Ông ước có đàn của vua Thuấn để đàn một tiếng cho dân no ấm, nhà nhà yên vui “dẽ có ngu cầm đàn một tiếng”. Đằng sau sự mong ước ấm no cho đất nước, cho nhân dân ấy là một sự trách móc nhẹ nhàng của ông dành cho bọn quan lại cầm quyền tham lam không chăm lo cho đời sống của nhân dân.

Về quê sống an nhàn hưởng thụ nhưng Nguyễn Trãi vẫn một lòng vì nước vì dân, thiên nhiên kia không che lấp nổi tình yêu nước thương dân của một tấm lòng cao quý, luôn đương đầu với giông bão cuộc đời.

Bài văn mẫu số 2 Phân tích bài thơ cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi đã sống một cuộc đời mà cả hạnh phúc lẫn thương đau đều được đẩy đến tột cùng. Trong khoảng thời gian đời người hơn 60 năm, thi nhân đã để lại một gia sản vô cùng quý giá. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn chương, lời nhận định kia đã không có gì là thái quá. Trước tác của Ức Trai có thơ, có văn, lại có cả lịch sử, địa lí nữa. Ở mảng thơ, bên cạnh tập thơ chữ Hán nổi tiếng Ức Trai thi tập, thiết nghĩ còn cần phải đặc biệt chú ý vị trí vai trò của tập Quốc âm thi tập. Tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được này, không những chiếm địa vị quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà mà còn là tài liệu chủ yếu để nghiên cứu lịch sử phát triển của ngôn ngữ nước ta. Gồm những bài thơ viết rải rác trong suốt cuộc đời, Quốc âm thi tập đã giúp người đọc khai mở nhiều phần sâu kín trong tâm hồn người thi sĩ bất hạnh vào loại bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Quốc âm thi tập có một cấu trúc chỉnh thể với 4 phần. Trong đó phần vô đề gồm toàn bộ những bài thơ không có tựa đề, được chia thành các nhóm : ngôn chí, mạn thuật, trần tình, thuật hứng, tự thán, bảo kính cảnh giới… Chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) có 61 bài. Những câu thơ trong Bảo kính cảnh giới bài 43 luyến láy du dương, có chút vui điểm vào cuộc đời đầy u uất của thi nhân Nguyễn Trãi.

Được tổ chức theo kiểu một bài thất ngôn bát cú nhưng bài thơ lại mở đầu bằng một câu thơ thất luật, ngắt nhịp tự do, tự nhiên như lời nói thường ngày :

Rồi/ hóng mát/ thuở ngày trường

Khởi hứng bằng một tâm thế – tâm thế của một con người an nhàn hưởng thụ (thiên nhiên). Bài thơ có lẽ được làm trong một lần Nguyễn Trãi về ở Côn Sơn (theo Đào Duy Anh, trong đời mình Nguyễn Trãi có nhiều lần về ở Côn Sơn). Rũ sạch bụi lầm của chốn phồn hoa đô hội, con người đến với thiên nhiên tự do, tự tại, giản dị không gò ép. Phải chăng, vì thế mà câu thơ cũng vuột ra khỏi cái khuôn khổ của thơ luật để giản dị, nhẹ nhàng như chính con người và cuộc sống chốn sơn lâm.

Câu thơ nhẹ nhàng gợi nghĩ đến hình ảnh một vị tiên đồng, đạo cốt. Từ rồi (có bản chép là rỗi) kết hợp với ngày trường cộng hưởng với nhịp thơ kéo giãn thời gian của một ngày. Cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga.

Nguyễn Trãi không phải người không biết giới hạn. Có nhiều lần ông đã bày tỏ ý nguyện “công thành thân thoái”. Nếu phải viện đến lí do thì có lẽ nhiều người sẽ nghĩ đến sự gắn bó rất chân thành của tác giả với thiên nhiên. Những bức tranh thiên nhiên mà tác giả đã say sưa nét vẽ như ở trong bài thơ này đã chứng tỏ một điều cuộc sống đâu phải cứ giàu có thì sang trọng :

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Cuộc sống của thi nhân là vậy. Cả cuộc đời nghèo khó, nhưng đó chỉ là ở phương diện vật chất mà thôi.

Nhìn vào thi liệu thì bức tranh tất được vẽ vào lúc cuối hè : hoa lựu đang rộn ràng chuyển sang màu đỏ rực, sen thì đã tiễn mùi hương. Việc lựa chọn thời gian nghệ thuật cũng như cách thức miêu tả thiên nhiên hẳn không phải là chuyện ngẫu nhiên. Lá hoè ngả sang màu lục, um tùm dồn lại thành từng khối lá xanh, toả rộng, che rợp cả mặt sân. Hoa lựu không còn nhạt mà rực rỡ như những chùm lửa đỏ. Sau này Nguyễn Du cũng dùng hoa lựu để nói cái oi bức, rực nóng của mùa hè :

Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông.

Dưới những ao đầm, hoa sen hồng đã nở rộ xen giữa những chiếc lá mát xanh, cả đầm sen đưa hương thơm ngát. Điểm vào cái không gian ấy là tiếng ve kêu ồn ã như đang trút hết mình cho phút chiều tà. Nếu mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc thì mùa hạ là lúc trưởng thành. Đặc biệt cuối hè là lúc nó phô diễn một sức sống căng đầy, sung mãn nhất của sự trưởng thành. Nó bắt đầu kết trái cho mùa thu để rồi chuẩn bị cho sự hoá thân vào mùa đông. Thiên nhiên trong bài thơ này là thế : dường như nó đang ở trạng thái căng đầy nhất. Một bức tranh thiên nhiên đủ gợi cho chúng ta liên tưởng về một cuộc sống ấm no, đủ đầy.

Hài hoà cùng thiên nhiên là cuộc sống sinh hoạt thường nhật của người lao động :
Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Hàm ý của câu thơ dồn cả vào cái âm thanh của chợ cá. Sự náo nhiệt của chợ cá gợi lên sự liên tưởng về cuộc sống no ấm thanh bình của người dân. Bởi chợ cá ở đây rất có thể chỉ là một góc chợ quê, mà âm thanh vẫn rộn ràng náo nhiệt vô cùng.

Làm theo thể thất ngôn bát cú nhưng kết cấu đề – thực – luận – kết xem ra không phải là lựa chọn hợp lí để tiếp cận bài thơ này. Bài thơ có thể được chia theo bố cục 6/2. Trên là vẻ đẹp của thiên nhiên và âm thanh cuộc sống, dưới là ước vọng của nhà thơ :

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Là một mô típ thường thấy trong thơ Nguyễn Trãi. Một tấc lòng ái ưu luôn chỉ chực dâng lên cùng sóng nước. Câu thơ gắn với một điển tích. Ở Trung Quốc thời cổ đại có một triều đại lí tưởng (thực chất là một cộng đồng người nguyên thuỷ sống theo bộ tộc) được đời đời truyền tụng như là một hình mẫu đẹp – thời vua Nghiêu Thuấn. Vua Thuấn có cây đàn (gọi là Ngu cầm). Vua thường hay dạo khúc Nam phong trong đó có câu “Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề” nghĩa là “gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của”. Mượn một điển tích, Nguyễn Trãi đã không giấu được sự vui mừng khi thấy dân chúng khắp nơi đang được đủ đầy no ấm.

Câu thơ cuối cùng tương ứng với câu đầu, vượt ra khỏi luật Đường. Nhịp thơ 3/3 ngắn gọn, dứt khoát, thể hiện ước vọng chân thành của Nguyễn Trãi, mong sao ở mọi nơi, cuộc sống thanh bình no ấm sẽ đến với mọi người.

Câu nói của người xưa “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ) thật hợp với cuộc đời Nguyễn Trãi. Một cuộc đời trọn tình, vẹn nghĩa với nước với dân.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here